CHUYÊN ĐỀ GIẢI TOÁN TIỂU HỌC

GIÚP HỌC SINH CÓ PHƯƠNG PHÁP HỌC VÀ NẮM CHẮC CÁC BƯỚC ĐỂ GIẢI MỘT BÀI TOÁN CÓ LỜI VĂN TRONG CHƯƠNG TRÌNH TOÁN TIỂU HỌC.

 

 

  1. I) – Tầm quan trọng của việc giải toán có lời văn trong chương trình toán học ở Tiểu học nói chung và ở toán lớp 4, 5 nói riêng:

– Giải các bài toán có lời văn là sự vận dụng tổng hợp ở đinh cao các tri thức kĩ năng về toán Tiểu học với kiến thức cuộc sống. Các bài toán có lời văn có nội dung là những vấn đề trong cuộc sống hết sức phong phú và có cấu trúc đa dạng. Từ những dạng khác nhau của cùng một phép tính ( cộng, trừ, nhân, chia) đến những dạng kết hợp của hai hay nhiều phép tính.

Vì vậy giải các bài toán có lời văn là dịp để học sinh vận dụng một cách tổng hợp và ngày càng cao các tri thức và kĩ năng vè toán Tiểu học với kiến thức cuộc sống như:

+ Vận dụng về mối quan hệ giữa các đại lượng trong ” đo đại lượng”. Các mối quan hệ giữa các yếu tố của các hình hình học và các quan hệ giữa các đại lượng thường gặp trong cuộc sống.

+ Vận dụng về đặc điểm của mỗi loại toán điển hình để tìm ra cách giải riêng biệt của loại toán điển hình đó.

  1. II) – Tình hình cụ thể của học sinh trong giải toán có lời văn:

Trong thực tế giảng dạy tôi nhận thấy tất cả học sinh đều cho các bài toán giải có lời văn đều là các bài toán khó. Trong 1 bài kiểm tra hoặc trong số bài tập của một tiết học, học sinh chỉ làm đựoc các bài toán về 4 phép tính ( toỏn con ), toán tìm thành phần chưa biết trong phép tính, thứ tự thực hiện các phép tính trong biểu thức … Rất ít em làm được các bài toán giải trọn vẹn .

– Nói chung kỹ năng giải toán của học sinh còn rất yếu. Qua quá trình giảng dạy bản thân tôi nhận thấy:

Học sinh yếu về giải toán là do các nguyên nhân sau:

  • Chưa nắm chắc được các dạng toán .
  • Chưa đọc kĩ bài toán , chưa biết tóm tắt bài toán .
  • Khả năng phân tích , tổng hợp, so sánh . . . của học sinh còn rất hạn chế.
  • Chưa biết đặt lời giải cho phù hợp với phép tính .
  • Học sinh thiếu kiên trì, chịu khó.

III) – Biện pháp:

Từ những nguyên nhân trên bản thân tôi đã tìm mọi cách để giúp học sinh:

  • Nắm chắc các dạng toán giải trong chương trình toán 4, 5:
  • Tìm số trung bình cộng.
  • Tìm hai số khi biết tổng và hiệu của hai số đó .
  • Tìm hai số khi biết tổng và tỉ số của hai số đó .
  • Tìm hai số khi biết hiệu và tỉ số của hai số đó .
  • Bài toán liên quan đến rút về đơn vị .
  • Bài toán về tỉ số phần trăm .
  • Bài toán về chuyển động đều .
  • Bài toán có nội dung hình học ( chu vi , diện tích , thể tích )
  • Dùng hệ thống câu hỏi từng bước giúp học sinh biết tư duy phân tích, tổng hợp, so sánh . . . các đại lưọng, các dự kiện , các mối liên hệ giữa các dự kiện trong bài toán.
  • Khi hướng dẫn học sinh giải một bài toán cần cho học sinh nhận rõ mối quan hệ giữa các đại lượng trong bài toán để thấy giữa chúng có mối quan hệ tương quan chặt chẽ với nhau.

Chẳng hạn: Quan hệ giữa cái đã cho và cái phải tìm trong mỗi bài toán, trong các bài toán ngựơc lại.

  • Tập cho học sinh từng bước biết xem xét các đối tượng toán được học dưới nhiều khía cạnh khác nhau, thậm chí ngược nhau và tập diễn đạt các kết luận bằng những hình thức khác nhau.

Ví dụ: ” số học sinh khá giỏi bằng 1/3 số học sinh cả lớp” cũng có nghĩa là: “Số học sinh cả lớp gấp 3 lần số học sinh khá giỏi”

+ ” Số cây cam gấp đôi số cây nhãn” cũng có nghĩa là: “Số cây nhãn bằng nửa số cây cam”.

  • Tập cho học sinh làm quen với các thao tác tư duy: Phân tích, tổng hợp, so sánh, trừu tượng hoá, khái quát hoá, cụ thể hoá . . .
  • Chọn phương pháp giải :
  • Sau khi phân tích, tổng hợp, so sánh . . . gợi ý để học sinh biết chọn ra phương pháp giải tốt nhất.

Trong quá trình giảng dạy cần chú ý đến cả 4 đối tượng ( giỏi, khá, trung bình, yếu). Câu hỏi đặt ra cho từng đối tượng theo các các mức độ khác nhau, mỗi câu hỏi phải được nhiều học sinh trả lời và phải đủ cả 4 đối tượng. Sau đó giáo viên chọn câu trả lời đúng nhất để kết luận vấn đề. Kết hợp với vở bài tập toán để tất cả học sinh đều được tự rèn luyện, giáo viên cần theo dõi và nắm bắt đối tượng chính xác để có biện pháp tốt giúp học sinh lĩnh hội kiến thức được dễ dàng và trọn vẹn.

  • Để học sinh có lòng ham mê học toán giải, giáo viên phải biết kiên trì, chịu khó, không được chán nản, luôn luôn gây hứng thú học tập cho các em, không nặng nề, quát mắng mà cần phải nhẹ nhàng, thân thiết, gần gũi với các em. Tất cả các bài tập ra về nhà làm giáo viên cần phải gợi ý, hướng dẫn cách giải để học sinh có hướng làm đúng, sau đó để các em tự làm rồi giáo viên chữa cụ thể nhằm kiểm tra khả năng giải toán của các em.
  • Giúp học sinh nắm chắc các bước giải:

Để giải được một bài toán có lời văn học sinh cần thực hiện theo các bước sau:

  • Đọc kĩ đề toán .
  • Nhận dạng toán ( bài toán thuộc dạng toán nào?)
  • Tóm tắt đề toán (bằng sơ đồ đoạn thẳng hoặc bằng lời viết gọn).
  • Tìm ra mối quan hệ giữa các đại lượng trong bài toán, lập trình tự giải bài toán ( tìm trước cái gỉ? Bằng phép tính nào? . . .).
  • Tìm câu lời giải ( dựa vào câu hỏi của bài toán )
  • Thực hiện trình tự giải toán để tìm ra đáp số.
  • Thử lại để kiểm tra kết quả.
  • Tìm xem có cách giải nào khác – chọn cách giải tốt nhất.
  • Trình bày bài giải gồm các câu lời giải cùng phép tính kèm theo rồi đến đáp số.

Thực ra thì để học sinh làm được toán giải có lời văn không khó – Nhưng vì các em chưa biết cách làm nên thấy khó. Khi đã biết cách làm các em thấy toán giải rất hấp dẫn, qua toán giải để kiểm nghiệm lại khả năng, nhận thức về toán học của mình.

 

  1. IV) – Kết quả:
  • Học sinh hứng thú học toán. Giờ học toán sôi nổi hẳn lên.
  • Đa số các em làm được toán giải – Một số em có cách giải độc đáo, sáng tạo .
  • Khả năng nhận biết dạng toán khá chính xác.
  • Câu lời giải, phép tính giải chặt chẽ .

Trình bày bài giải rõ ràng, sạch sẽ đúng quy định.

Trên đây là một số kinh nghiệm mà bản thân đã rút ra được trong qúa trình giảng dạy toán ở Tiểu học .

Rất mong nhận được sự góp ý  của đồng nghiệp . / .

 

 

 

 

 

 

 

 
DẠY TẬP LÀM VĂN CHO HỌC SINH TIỂU HỌC.

 

 

  1. Đặt vấn đề.

– TLV là một phân môn rất quan trọng trong môn Tiếng Việt, nó đòi hỏi HS phải vận dụng toàn bộ kiến thức, kinh nghiệm kĩ năng Tiếng Việt, vận dụng luôn cả tư tưởng, tình cảm của mình để làm bài. Chính vì vậy, có thể nói: TLV là thước đo năng lực học Tiếng Việt của HS.

– Làm văn là nơi thử thách ở HS các kĩ năng Tiếng Việt, vốn sống, vốn văn học, năng lực cảm thụ văn học một cách tổng hợp. Ở đây, HS phải tỏ ra có khả năng thể hiện suy nghĩ, cảm xúc, tình cảm của mình bằng ngôn ngữ nói và viết. Nó nhằm trau dồi vốn sống và vốn văn chương của HS, nâng cao năng lực cảm nhận và diễn tả ở HS. Các em được luyệnn viết theo thể loại, kiểu bài đã học. Rèn cách nghĩ, cách cảm nhận chân thật mà phong phú, sáng tạo; luyện cách diễn tả chính xác, sinh động, hồn nhiên và tiến tới có nét riêng độc đáo của mình.

– Ở  bậc Tiểu học, phân môn TLV sẽ thử thách HS các kiến thức, kĩ năng về các kiểu bài như: miêu tả ( đồ vật, cây cối, loài vật), kể chuyện, viết thư, trao đổi ý kiến, giới thiệu hoạt động, tóm tắt tin tức, điền vào giấy tờ in sẵn (lớp 4).

– Học TLV giúp các em phát triển óc ghi nhớ, khả năng tưởng tượng, tư duy lô gíc, tư duy trừu tượng. Giàu tưởng tượng, giàu ước mơ là những phẩm chất mở đường cho khả năng sáng tạo. Học TLV, HS có điều kiện tiếp cận với vẻ đẹp của con người, của thiên nhiên qua các bài văn, đoạn văn điển hình. Khi phân tích đề HS có dịp hướng tới cái thiện, cái hay, cái đẹp trong các đề bài. Các bài luyện tập báo cáo thống kê, làm đơn, làm biên bản, lập chương trình hoạt động (lớp 5); viết thư trao đổi với người thân, giới thiệu địa phương, tóm tắt tin tức, điền vào giấy tờ in sẵn ( lớp 4) tạo cơ hội cho HS thể hiện mối quan hệ cộng đồng, kiến thức thực tế. Những cơ hội đó làm tình cảm yêu mến, gắn bó với thiên nhiên, với con người và việc xung quanh của trẻ nảy nở, tâm hồn tình cảm của trẻ thêm phong phú.

Đó là nhân tố quan trọng góp phần hình thành nhân cách tốt đẹp của trẻ.

  1. Mục đích:

– Rèn luyện cho HS kĩ năng quan sát, tìm hiểu, phân tích đề, tìm ý, lựa chọn ý, sắp xếp ý, kĩ năng lập dàn ý, kĩ năng diễn đạt; kĩ năng viết đoạn, viết bài theo các cách khác nhau; kĩ năng hoàn thiện bài viết, kĩ năng chữa bài.

– Biết viết mở bài, kết bài theo các cách khác nhau, biết liên kết đoạn văn lô gíc, biết vận dụng ngôn ngữ để trình bày nhận thức, tình cảm của mình.

– Biết sử dụng các biện pháp tu từ trong khi viết để làm cho bài văn sinh động và hấp dẫn hơn

– Luyện tập cho các em  có kĩ năng quan sát tinh tế, biết phối hợp nhiều giác quan trong khi quan sát, nhằm rèn luyện tâm hồn, cảm xúc, vốn sống vốn hiểu biết của các em.

– Rèn cho các em kĩ năng trình bày một bài văn nói, viết theo đề bài đã cho.

III. Thực trạng:

– HS là con em nông dân, cuộc sống gia đình các em còn có nhiều khó khăn. Ngoài giờ học, các em còn phụ giúp gia đình những việc như:  chăn trâu, cắt cỏ,…. Bên cạnh đó, nhận thức của phụ huynh còn hạn chế: chưa thật sự quan tâm đến việc học của con em mình hoặc không có khả năng bày vẽ, giúp đỡ các em học tập. Các em ít có điều kiện tiếp xúc với khoa học kĩ thuật, với công nghệ thông tin, ít tham gia các hoạt động ngoại khoá, đọc sách báo để nâng cao vốn hiểu biết của mình. Vì vậy mà bài làm văn của các em rất hạn chế: Bài viết thường hay bị lạc đề, bố cục bài chưa rõ ràng, diễn đạt lúng túng, dùng từ chưa sát ý văn, dùng từ địa phương, văn viết như nói, kể lể dài dòng, rời rạc, rườm rà. Sắp xếp ý lộn xộn, lặp từ, lặp ý, lặp câu thậm chí lặp cả đoạn văn. Câu viết chưa đúng ngữ pháp: câu què, câu cụt, câu rườm rà nhưng không có đủ các bộ phận chính,…. Câu văn không có hình ảnh, không có cảm xúc,…. Nội dung giữa mở bài, thân bài, kết bài lẫn lộn nhau. Vào bài đơn điệu, kết bài đột ngột. Chưa biết sử dụng các biện pháp tu từ trong khi viết. Bài viết sơ sài, nội dung hạn chế, chưa biết liên kết câu đoạn với nhau… Bài viết khuôn sáo, chép lại văn mẫu…

Nguyên nhân:

– Kĩ năng đọc đề, tìm hiểu, phân tích đề của HS rất hạn chế.

– Chưa biết dùng dàn bài chung để lập dàn bài chi tiết cho từng đề bài

– Chưa biết tìm ý, chọn ý, sắp xếp ý.

– Chưa có thói quen lập dàn ý trước khi viết mà các em chỉ nghĩ đến đâu viết đến đó.

– HS ít đọc sách, báo để trau dồi vốn ngôn ngữ, học tập cách viết của họ.

………………………………………………..

  1. Nội dung và biện pháp cần giải quyết.

1) Một số biện pháp dạy tiết TLV miệng lớp 4- 5.

a/. Thực trạng: Qua thực tế giảng dạy, tôi nhận thấy GV và HS còn có những điểm hạn chế ảnh hưởng không nhỏ tới chất lượng dạy và học TLV.

* Về phía GV: Khi dạy tiết TLV miệng GV còn rất e ngại, lúng túng, thao tác của GV thường là cho HS  chuẩn bị bài văn ra giấy nháp rồi đọc lên , GV nhận xét rồi nói lại hoặc phải gặng hỏi liên tục nhưng HS vẫn nói từng ý, từng đoạn một cách rời rạc, tản mạn.

* Về phía HS:

+ HS chưa chủ động diễn đạt nội dung từng phần cũng như toàn bài thông qua lời nói, còn thụ động khi tiếp thu bài học.

+ HS rụt rè, e ngại khi nói trước lớp.

+ HS chưa có thói quen làm dàn bài và dựa vào dàn bài để nói mà thường đọc lại nội dung bài văn đã viết sẵn trong giấy nháp.

+ Trong một tiết học số HS được nói chưa quá 1/3 sĩ số lớp.

  1. b) Biện pháp: Để một tiết TLV nói đạt kết quả tốt người GV cần thực hiện tốt các yêu cầu sau:

– Chuẩn bị tốt nội dung bài nói.

+ Nói về đề tài gì? (XD nội dung nói)

+ Nói cho ai?         (XD đối tượng nói)

+ Nói để làm gì?    (XD mục đích nói)

+ Nói như thế nào? ( sử dụng hành động, ngôn ngữ,…)

– Chú trọng rèn HS diễn đạt đúng, đủ và rõ ý bằng lời văn tự nhiên, chân thành, giàu cảm xúc. Có sự hỗ trợ của ngữ điệu, cử chỉ, nét mặt… để làm tăng sức biểu cảm của lời nói.

– Quan tâm, HDHS cách trình bày mạch lạc các ý, các đoạn văn để tạo được sự thuyết phục đối với người nghe.

– Tạo ra một hoàn cảnh giao tiếp tốt:

+ Không khí lớp học hào hứng, kích thích HS muốn nói, mạnh dạn nói, quan hệ thầy trò thoải mái, trò chủ động, thầy chủ đạo. Tôn trọng ý kiến tham gia hội thoại của HS.

+ Tạo cho HS có hưng phấn về vấn đề đưa ra để HS chú ý nghe và trả lời đúng hướng.

+ Lưu ý đến hoạt động khác có thể ảnh hưởng trực tiếp hay gián tiếp tới việc nghe và nói của HS. HS sẽ không nói hoặc không muốn nói trong điều kiện cả lớp ồn ào, thiếu tập trung. GV nói rời rạc, không chú ý đến hành vi trả lời của HS. Hoặc GV và các bạn không tôn trọng thể diện bạn đó,…

Bởi vậy khi luyện TLV nói cho HS, GV cần hết sức chú ý tới hoạt động chung về mọi mặt của lớp. Một giờ TLV nói không phải chỉ là giờ làm việc của HS mà còn là giờ làm việc thật sự nghiêm túc của GV.

Thông qua bài dạy, với thực tế tôi rút ra đựơc quy trình chung cho tiết TLV nói như sau:

+ GV chép đề bài lên bảng, HDHS đọc kĩ đề, xác định yêu cầu của đề bài và kết hợp củng cố lí thuyết làm bài văn theo thể loại.

+ HDHS lập dàn bài hoặc hoàn thiện bài đã chuẩn bị trước để HS định hướng đúng những điều cần nói và cách nói trước tập thể lớp.

+ HDHS tập nói.

+ Nhận xét, rút kinh nghiệm chung.

Trong 4 bứơc trên, bước HDHS tập nói là nhiệm vụ chính của tiết học. Để thực hiện tốt bước này, GV cần nắm vững những yêu cầu cơ bản và biết vận dụng linh hoạt, sáng tạo trong từng tiết học với từng kiểu bài, từng đối tượng cụ thể. Có thể tiến hành bước này theo phương pháp sau:

– HDHS tập nói từng ý, nói 2 đến 3 ý liên tục, nói một đoạn, một phần bài rồi tiến tới nói toàn bài ( nhất là HS yếu kém)

– Mỗi ý, mỗi phần cần khoảng 2 đến 3 HS tập nói, yêu cầu HS khác lắng nghe và nhận xét kết quả trình bày của bạn về nội dung và cách thể hiện… GV giúp HS thấy rõ ưu điểm, khuyết điểm để rút kinh nghiệm, đồng thời khen ngợi kịp thời để động viên HS.

– Sử dụng câu hỏi gợi mở để dẫn dắt HS tìm ý hoặc gợi ý để HS tìm từ ngữ diễn đạt mỗi khi các em lúng túng. GV cần kiên trì hướng dẫn HS tập nói theo dàn bài một cách tự nhiên, không gò ép. Khuyến khích HS nói nhiều cách khác nhau, khai thác, sắp xếp ý theo cách riêng của mình miễn là bám sát yêu cầu chung của bài làm.

Ngoài ra tư liệu giảng dạy rất cần thiết đối với GV, bởi vì dạy TLV đặc biệt là TLV miệng, GV không chỉ dựa vào SGK mà còn rất cần đến những tư liệu tham khảo để mở rộng hiểu biết về nội dung, phương pháp, vốn từ ngữ, các kiểu câu trong từng văn cảnh, từng thể loại, từng đề bài,… để cung cấp, gợi ý cho HS nói.

Tóm lại: Để giúp HS luyện tập tốt trong những giờ TLV nói, GV cần chú ý đến một số vấn đề như sau:

– Cần nắm vững chủ đề, đề bài, thể loại luyện nói cho HS.

– Khi nói cần hết sức tự tin, bình tĩnh.

– Chú ý theo dõi diễn biến tâm lí, sự hứng thú của người nghe.

– Phải tôn trọng những nghi thức lời nói trong giao tiếp; vấn đề văn hoá trong lời nói, trong giao tiếp là điều phải hết sức chú ý trong quá trình hội thoại.

– Khi nói cần phải có ngữ điệu, ngữ điệu phải phù hợp với nội dung và thái độ. Tránh lối nói như đọc thuộc lòng bài văn.

Dạy phân môn TLV nói chung, TLV nói nói riêng chúng ta vận dụng lí thuyết hội thoại sẽ là yếu tố quan trọng quyết định sự thành công của người GV.

2) Một số biện pháp giúp HS viết bài TLV đạt kết quả tốt.

  1. a) THực trạng: ( như thực trạng chung mục III)
  2. b) Biện pháp: Kết quả cuối cùng của việc dạy TLV là hiêu quả của những bài văn. Bài văn hay là bài văn đạt tốt các yêu cầu về nội dung, nghệ thuật và giàu cảm xúc. Để viết bài TLV, HS thường trải qua các khâu cơ bản: Xây dựng dàn ý, lập dàn bài chi tiết, trao đổi ý văn, lời văn qua tiết TLV nói, làm bài viết rồi được học tập, rút kinh nghiệm qua giờ trả bài. Trong các tiết học này GV và HS sẽ lần lượt giải quyết các yêu cầu nói trên. Trước hết phải rèn luyện cho HS các kĩ năng sau:

* Luyện kĩ năng phân tích đề: HS cần đọc kĩ đề nhiều lần, GV giúp HS trả lời được những câu hỏi: Viết theo thể loại nào? Viết để làm gì? Viết về cái gì? Viết cho ai? Thái độ được bộc lộ qua bài viết như thế nào? Vì trong thực tế HS rất hay lạc đề.

* Luyện kĩ năng quan sát, tìm ý:

Quan sát phải có mục đích, có cách nghĩ cách cảm riêng của mình. Quan sát nhằm phản ánh một đối tượng vừa cụ thể, chi tiết vừa có tính khái quát. Qua chi tiết để người đọc thấy được bản chất của sự vật. Vì vậy quan sát phải lựa chọn: Cụ thể nhưng không rời rạc, tản mạn, mang tính chất liệt kê mà đó là chi tiết lột tả cái thần của người và vật. Khi quan sát cần sử dụng đồng thời nhiều giác quan nhưng quan trọng là phải quan sát bằng tấm lòng.

Quan sát phải luôn gắn bó với việc tìm ý và tìm từ ngữ để diễn tả. Để giúp HS quan sát và tìm ý, mỗi đề bài cần có một hệ thống câu hỏi gợi ý các nôị dung quan sát và các ý cần xác lập.

* Luyện kĩ năng lập dàn ý:

Giúp HS diễn tả nội dung bài viết một cách đầy đủ, mạch lạc, biết triển khai các ý cụ thể một cách lôgic và sinh động, khi lập dàn ý phải xác lập được ý chủ đạo.

Ví dụ: Tả cảnh gặt lúa trên đồng thì ý chủ đạo là cảnh nhộn nhịp làm việc trên cánh đồng.

Bên cạnh xác định ý chủ đạo cần sắp xếp ý theo một trình tự nhất định: có thể là trình tự thời gian, trình tự không gian, trình tự tâm lí.

Việc triển khai bố cục ba phần của bài văn cần được thực hiện một cách linh hoạt, sinh động, sáng tạo, tự nhiên không gò bó, khuôn sáo.

Dạy bài tập dàn ý có thể là cho trước một bài văn hoàn chỉnh yêu cầu HS thiết lập lại dàn ý của nó hoặc đặt tên cho đoạn, bài. Hoặc phát hiện điểm chưa hợp lí, sắp xếp lại, lược bớt cho phù hợp với dàn bài cho trước.

Sau khi đã có dàn ý, chuyển sang luyện cho HS viết văn, mục đích để bồi dưỡng những kĩ năng diễn đạt cho HS.

Một số dạng bài tập cụ thể để luyện viết.

* Bài tập luyện dùng từ viết câu:

Ví dụ: Chữa lại những từ dùng sai trong đoạn văn sau: “Dáng mẹ đậm đà, nước da đen láy vì dãi dầu mưa nắng, khuôn mặt mẹ đầy đặn và có phúc. Dưới cặp lông mày thanh thản, đôi mắt của mẹ luôn mở to. Đôi mắt ấy với tôi thật gần gũi và sáng sủa biết bao!”

* Bài tập yêu cầu từ ý đã cho viết thành các câu gợi cảm, thể hiện được cảm xúc.

Ví dụ: Viết các câu gợi cảm thể hiện đựơc tâm trạng của mình trước các sự việc sau: Được phần thưởng cuối năm học, trời nắng như đổ lửa,….

* Bài tập yêu cầu viết câu có sử dụng các biện pháp tu từ.

Ví dụ: Sử dụng các biện pháp: So sánh, nhân hoá, đảo ngữ để diễn đạt lại các câu văn dưới đây cho sinh động, gợi cảm.

  • So sánh: Đường làng đẹp, những cây phượng đã nở hoa đỏ rực.
  • Nhân hoá: Mấy con chim đang hót ríu rít trên vòm cây.
  • Đảo ngữ: Nơi đây các liệt sĩ vô danh đời đời yên nghỉ.

* Bài tập yêu cầu tạo những hình thức so sánh.

Ví dụ: Điền vào chỗ trống những từ ngữ so sánh cho thích hợp: Da trắng như ……… , mắt đen như…………., miệng cười như………………..

Khi luyện viết văn người ta còn hay sử dụng các dạng bài tập sau:

* Yêu cầu mở rộng thành phần câu để cách diễn đạt trở nên sinh động, gợi cảm, gợi tả hơn.

Ví dụ: Mây trời à Bầu trời cao xanh, một đám mây trôi lơ lửng như một nàng tiên áo trắng đang dạo chơi.

* Bài tập yêu cầu viết thành đoạn, bài.

Ví Dụ: Cho trước câu mở đầu.

Dụă vào câu mở đầu dưới đây, viết 3 – 4 câu để tạo thành một đoạn văn: “Bầu trời mùa thu thật thoáng đãng”.

* Bài tập yêu cầu viết mở bài, kết bài theo các cách khác nhau: mở bài trực tiếp, gián tiếp; kết bài không mở rộng, kết bài có mở rộng.

Trong luyện làm văn, khâu đánh giá, sửa chữa rất quan trọng. GV cần chấm chữa bài cho từng em thật kĩ, chỉ ra lỗi cụ thể để các em sửa chữa, đồng thời khen ngợi những em viết tốt để các em phấn khởi phát huy.

Đối với HS yếu cũng nên khen ngợi kịp thời, động viên tinh thần học tập của các em, có như thế các em sẽ tự tin hơn, giúp việc học văn sẽ không còn chán nản nữa.

Kết luận: Để dạy tốt phân môn TLV, giúp HS yêu thích học văn, viết được những bài văn hay, người GV cần phải:

  • HDHS vận dụng các giác quan để quan sát, biết quan sát, biết lựa chọn, liên tưởng, tưởng tượng khi nhận xét sự vật.
  • HDHS cụ thể việc chuẩn bị: lựa chọn, hệ thống, diễn đạt ý quan sát, tưởng tượng, khả năng thể hiện.
  • Giúp HS tham gia hội thoại bằng nhiều hình thức như tổ chức quan sát, học nhóm, thảo luận,… giúp HS khi nói và viết.
  • Khi nhận xét, đánh giá bài của HS, GV cần:

+ Tôn trọng ý của HS sao cho đảm bảo nội dung thể hiện, phù hợp với yêu cầu của đề.

+ Cần biểu dương ưu điểm (dù là rất nhỏ) để động viên các em.

  • GV cần nắm vững đặc điểm từng thể loại và tổ chức dạy học hợp lí để rèn luyện các em nói, viết một vấn đề trọn vẹn. Đồng thời người GV phải có vốn kiến thức văn chương để bổ sung vào vốn kiến thức cơ bản làm cho giờ học văn trở nên hấp dẫn, lôi cuốn HS cùng tham gia vào tiết học một cách tích cực.

Trên đây là một số biện pháp nhằm giúp HS học tốt phân môn TLV của bản thân tôi. Rất mong các đồng nghiệp góp ý, bổ sung để có những biện pháp tích cực giúp HS học tốt môn văn và nâng cao chất lượng phân môn TLV ở bậc Tiểu học. / .

NGUỒN : LÊ NGỌC BÉ